Thuốc nam trị viêm ống mật


5 bài thuốc nam trị viêm ống mật
cây rau má



Viêm ống dẫn mật là bệnh rất thường gặp trong các bệnh về gan mật.
Nguyên nhân gây bệnh: do sỏi, do vi khuẩn. Theo Đông y là do can khí uất kết hoặc do thấp nhiệt. Nguyên tắc điều trị: chống viêm thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp. Nếu có sỏi thì cần phải bài sỏi…
Một số bài thuốc Nam điều trị viêm ống dẫn mật
Bài 1: Nhân trần 10g, hạ liên châu 12g, rau má 16g, đại hoàng 6g, bạch truật 12g, ích mẫu 12g, kim ngân 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 2: Đinh lăng 16g, lá đắng 10g, cỏ mần trầu 12g, ngân hoa 12g, chỉ xác 10g, bạch thược 12g, đan bì 10g, chi tử 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Bài 3: Ngân hoa 12g, liên kiều 10g, mã đề thảo 16g, rau má 16g, bồ công anh 16g, đại hoàng 6g, bạch thược 12g, phòng sâm 12g, đan sâm 10g, ích mẫu 16g, cam thảo đất 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, bài thạch, lợi gan mật.
5 bài thuốc nam trị viêm ống mật, Sức khỏe đời sống, suc khoe, viem ong dan mat, viem thanh nhiet, loi mat, dai hoang
Bài 4: Chỉ xác 10g, lá đinh lăng 50-60g. 2 thứ nấu lấy nước đặc, cho bệnh nhân uống dần, 2-3 lần liền có tác dụng thông ống dẫn mật, khi đã thông được thì triệu chứng đau giảm đi rất nhanh.
Bài 5: Đại hoàng 8g, kim tiền thảo 16g, bồ công anh 16g, kim ngân 16g, nhân trần 12g, cam thảo 12g, xa tiền 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.
Ngoài việc dùng thuốc bệnh nhân có thể sử dụng bài trà dược như sau: Râu ngô 80g, nhân trần 50g, hạ liên châu 50g, rau má 100g, lá đinh lăng 100g, cam thảo 80g, phòng sâm 80g, sâm hành 80g (dược liệu ở dạng khô). Các vị cắt ngắn, sao giòn trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g, hãm nước sôi vào bình kín, sau 10 phút là có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: chống viêm, thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp. Những người vị viêm tắc ống mật, sỏi mật, da vàng tiểu vàng, mắt vàng, ăn uống kém, tiêu hóa chậm, đau tức hạ sườn phải… dùng phương này rất phù hợp.
Continue Reading | nhận xét

CHỮA GAN NHIỄM MỠ BẰNG CÂY NẮP ẤM


Nắp ấm còn có tên cây bình nước, nắp bình cất, nắp nước, trư lung thảo, bình nước kỳ quan, cây bắt mồi, trư tử lung (Trung Quốc). Tên khoa học: Nepenthes mirabilis (Lour.) Druce. Thuộc họ nắp ấm Nepenthaceae.


Theo tài liệu ở Việt Nam có 5 loài, mọc leo, hoặc dựa vào cây khác. Chúng tôi gặp loài N.annamensis ở Khánh Hòa, Bà Rịa, Lâm Đồng. Loài N. mirabilis ở Bình Dương, Kiên Giang. Loài N. Thorelii ở Bình Phước, Bà Rịa. Loài N. distillarotia L. ở Bình Thuận. Các loài trên đều phân bố vùng đất chua, đất phèn hoặc đất đầm lầy, trên núi mọc ở thung lũng có suối ấm quanh năm.


Nắp ấm thân hình trụ, màu lục nhạt lúc non, màu nâu sậm lúc già, lúc đầu non có lông sau nhẵn, thân rất dai, đường kính 5-6mm (loại thấp), 10-20mm (loại cao). Lá có cuống ôm thân, phiến dài hình bầu dục thuôn, gân song song. Cuối lá có cuống dài, tùy loài (nhỏ) 1-2 vòng xoắn, lớn 3 vòng xoắn tương ứng bình to chứa nhiều mồi côn trùng, nắp bình trái xoan, cuống bình dài 5-20cm.


Cụm hoa chùy mảnh mọc thẳng đứng, đực hoặc cái 2 hoa. Quả nang chứa nhiều hạt mảnh và dài.


Mùa ra hoa tháng 5-10, quả tháng 11-12.


Phân bố: loài của nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở Nam Trung Quốc và Việt Nam, thường gặp từ Quảng Trị trở vào các tỉnh Tây Nguyên cho tới Cà Mau.


Công dụng của cây nắp ấm


Bộ phận dùng: thu hái toàn cây, đem về rửa nhanh, thái nhỏ, phơi khô để dành, dùng riêng hoặc phối hợp những vị thuốc khác.


Tính vị, tác dụng: vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, hóa đàm, chỉ khái, tiêu viêm, hạ huyết áp.


Công dụng: theo kinh nghiệm dân gian, dùng thân cây sắc uống trị tiêu chảy và hoa sắc uống thơm.


Ở Trung Quốc dùng trị: viêm gan hoàng đản; đau loét dạ dày-tá tràng; sỏi niệu đạo, bệnh đường tiết niệu; cao huyết áp, đái tháo đường; cảm mạo, ho gà, ho, khái huyết (ho ra máu).


Liều dùng: 15-30g hoặc 30-60g khô.


Đơn thuốc sử dụng có cây nắp ấm


Gan nhiễm mỡ (dựa vào siêu âm và kết quả xét nghiệm máu): toàn cây nắp ấm phơi khô, liều dùng 30-50g/ngày.


Cách dùng: nấu với 3 lít nước giữ sôi lửa 20 phút, để nguội uống thay trà hàng ngày. Liên tục 30 ngày, có thể dùng liên tục 3 tháng, kết quả rất tốt, chúng tôi chưa gặp phản ứng nào.


Sỏi thận, sỏi đường niệu: nắp ấm 30g, dây bòng bong 20g, bạch tật lê 12g, thương nhỉ tử 12g, mộc hương 6g, trần bì 6g. Nấu với 1.500ml, còn 600ml chia 3 lần uống/ngày. Đơn này có thể dùng 30 ngày.


Đái tháo đường, khát nước nhiều, khô cổ: nắp ấm 30g, giảo cổ lam 25g, thiên môn đông 25g. Nấu với 3 lít nước giữ sôi 20 phút. Chia 3-4 lần uống trong ngày, liên tục 1-3 tháng. Theo dõi đường huyết thường xuyên.


Chú ý khi dùng vị thuốc nắp ấm:


- Không dùng cho phụ nữ có thai.


- Người hay tiểu đêm không uống nắp ấm vào chiều-tối, nên uống sáng-trưa.


- Uống nước nắp ấm nước tiểu sẽ có màu đỏ sẫm như màu cà phê, không phải lo lắng.


Nguồn: Sức Khỏe & Đời Sống
Continue Reading | nhận xét

Xử trí các biến chứng xơ gan


Xử trí các biến chứng xơ gan


Xơ gan được coi là một bệnh trong “tứ chứng nan y”, ngày nay với những tiến bộ của y học hiện đại, đã có những hướng mới mở ra cho các bệnh nhân xơ gan, đặc biệt là việc kiểm soát và phòng ngừa các biến chứng giúp ổn định lại chức năng gan hay làm chậm sự tiến triển của bệnh, việc chẩn đoán sớm và tìm ra nguyên nhân để điều trị cũng cần được nhấn mạnh.
Xơ gan có biểu hiện gì?
Xơ gan là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng cấu trúc bình thường của gan bị biến đổi và thay thế bằng mô xơ sẹo không còn chức năng, thường gây ra bởi quá trình viêm kéo dài tại gan do nhiều bệnh lý khác nhau như xơ gan do ứ mật; hóa chất, thuốc; thiểu dưỡng; ký sinh trùng; rối loạn chuyển hóa... nhưng thường gặp nhất là tình trạng lạm dụng rượu và nhiễm virut viêm gan. Các thương tổn trong xơ gan thường không thể hồi phục được nhưng hoàn toàn có thể làm chậm hoặc ngăn cản các thương tổn này bằng việc điều trị hợp lý.
Thời kỳ đầu, xơ gan thường không có triệu chứng, về sau tùy thuộc từng mức độ có các biểu hiện của hội chứng suy tế bào gan, hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, bệnh nhân mệt mỏi, kém ăn, vàng da, da sạm, dễ chảy máu cam, chảy máu chân răng, phù, cổ trướng, suy giảm chức năng tình dục..., nặng hơn có những triệu chứng của biến chứng như nôn ra máu và đi ngoài phân đen do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, hôn mê gan, suy thận, các biểu hiện nhiễm khuẩn hoặc do xơ gan ung thư hóa...
Xử trí thế nào với các biến chứng của xơ gan?
Có thể nói, hiện chưa có cách nào có thể điều trị đặc hiệu hay làm đảo ngược lại quá trình bệnh lý. Điều trị xơ gan đòi hỏi những hiểu biết về bệnh sử, sinh lý bệnh và diễn tiến của bệnh; căn cứ vào nguyên nhân và mức độ thương tổn của gan. Trong đợt tiến triển, bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, ăn đủ chất, hợp khẩu vị; đủ calo, nhiều sinh tố, đạm; hạn chế mỡ, ăn nhạt khi có phù. Về thuốc, dùng các thuốc làm tăng cường chuyển hóa tế bào gan như vitamin C, B12; glucocorticoid dùng trong đợt tiến triển của xơ gan do viêm gan virut, xơ gan ứ mật; các thuốc tăng cường chuyển hóa đạm; khi protein trong máu giảm nhiều dùng các dung dịch có chứa albumin hoặc các loại đạm tổng hợp; khi có phù, cổ trướng to cần phối hợp dùng các thuốc lợi tiểu, hoặc chọc dịch cổ trướng khi có chỉ định...
Nhận biết và kiểm soát các biến chứng là yếu tố quan trọng
Các biến chứng thường gặp của xơ gan như vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, cổ trướng, nhiễm khuẩn màng bụng tiên phát, hội chứng gan thận, bệnh não gan...
Với giãn tĩnh mạch thực quản có 3 chiến lược điều trị cần được xác định đó là phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, điều trị chảy máu tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và phòng chảy máu trở lại. Phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân có biểu hiện giãn tĩnh mạch từ mức độ vừa trở lên, tập trung vào việc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và dùng các biện pháp tác động trực tiếp lên tĩnh mạch như tiêm xơ, thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su là biện pháp phòng ngừa ban đầu làm giảm tỷ lệ chảy máu và tử vong liên quan tới xuất huyết. Các thuốc nhóm chẹn beta giao cảm không chọn lọc như propranolol, nadolol, các nitrates và biện pháp cơ học như tạo các đường nối thông từ tĩnh mạch cửa sang tĩnh mạch chủ bằng TIPS (Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt) hay phẫu thuật giúp đều giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa. Các biện pháp cơ học làm giảm áp cửa rõ rệt tuy vậy lại có thể gây ra bệnh não gan nhanh hơn nên không thể là các biện pháp phòng bệnh ban đầu. Trong trường hợp chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, trước hết cần hồi sức ổn định tình trạng huyết động, dùng kháng sinh dự phòng, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch các thuốc có tác dụng làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa somatostatin, vasopressin, cân nhắc các biện pháp tiêm xơ hoặc thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su.
Các biến chứng khác như cổ trướng, nhiễm khuẩn màng bụng, ung thư hóa... cũng cần được đánh giá và điều trị hợp lý, kịp thời. Trong giai đoạn nặng thường có biểu hiện hôn mê gan, điều trị nhấn mạnh tới việc loại trừ các yếu tố thúc đẩy như chảy máu, nhiễm khuẩn, rối loạn điện giải... Chế độ ăn giảm đạm, dùng các thuốc giúp làm giảm lượng amoniac như neomycin, metronidazol, lactulose...
Biện pháp phòng ngừa xơ gan
Xơ gan là hậu quả của tổn thương gan do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phát hiện sớm đồng thời điều trị hợp lý, hiệu quả tất cả các biến chứng của bệnh là nền tảng trong điều trị. Ngày nay, có nhiều thuốc và lựa chọn phương pháp điều trị khác nhau đã phần nào làm giảm thiểu được các biến chứng, giúp cải thiện tình trạng bệnh và kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân; ghép gan dù có rất nhiều khó khăn về kỹ thuật, chi phí và nguồn tạng nhưng cũng là một hướng mang lại nhiều triển vọng. Tuy vậy, điều cần nhấn mạnh trước hết vẫn là việc dự phòng, bệnh nhân cần biết tất cả các biện pháp vệ sinh phòng chống lây nhiễm và tiêm phòng virut viêm gan, chống thói quen nghiện rượu, ăn uống đủ chất, phòng chống nhiễm sán lá gan, điều trị tốt các bệnh đường mật, thận trọng khi dùng các thuốc gây hại cho gan, dự phòng và điều trị tốt các bệnh viêm gan cấp và mạn tính... để làm giảm thiểu các hậu quả dẫn tới xơ gan.    
(Sức khoẻ và Đời sống)
Continue Reading | nhận xét

Diễn tiến tự nhiên của Xơ gan

Diễn tiến  tự nhiên của Xơ gan
Có hai giai đoạn chính trong diễn tiến  tự nhiên của xơ gan: xơ gan còn bù và xơ gan mất bù, được xác định theo các triệu chứng : có cổ trướng hoặc không có cổ trướng, xuất huyết do giãn tĩnh mạch, bệnh não gan có hoặc không có  vàng da.
Xơ gan còn bù và xơ gan mất bù là 2 thực thể riêng biệt với sự khác biệt về biểu hiện lâm sàng, các chỉ số tiên lượng, kết quả và tỷ lệ tử vong (Hình 1).
Hậu quả thường gặp nhất ở những bệnh nhân xơ gan còn bù là sự chuyển tiếp sang xơ gan mất bù, là một biến cố xảy ra ở khoảng 5% đến 7% bệnh nhân mỗi năm. Biến chứng dự đoán quan trọng nhất về sự mất bù là gradient áp lực tĩnh mạch gan (HVPG) > 10 mm Hg. Mức HVPG này được gọi là “tăng áp lực tĩnh mạch cửa có ý nghĩa lâm sàng”.
Đáng chú ý là ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) có thể gây ra sự mất bù ở những bệnh nhân xơ gan còn bù và cũng là một biến dự đoán về tử vong ở xơ gan mất bù. Vì vậy, cần xem xét ung thư biểu mô tế bào gan như một chỉ số tiên lượng trong bất kỳ giai đoạn nào của bệnh hơn là một giai đoạn xơ gan khác biệt hoặc một biến cố xác định sự mất bù.
Phương tiện quan trọng nhất để dự đoán độ nặng và tử vong ở xơ gan mất bù là thang điểm Child-Turcott-Pugh (CTP) và thang điểm Mô hình bệnh gan giai đoạn cuối (MELD), sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong tài liệu này. Gần đây hơn, 4 giai đoạn xơ gan khác nhau đã được xếp loại dựa trên dữ liệu về tỷ lệ tử vong sau 1 năm ở một nghiên cứu đoàn hệ lớn ở các bệnh nhân không được điều trị. 2 giai đoạn đầu tiên xảy ra ở xơ gan còn bù và được xác định theo sự không có giãn tĩnh mạch (giai đoạn 1) hoặc có giãn tĩnh mạch (giai đoạn 2). 2 giai đoạn khác xảy ra ở xơ gan mất bù và được xác định theo sự có cổ trướng (không có xuất huyết do giãn tĩnh mạch, giai đoạn 3) và xuất huyết do giãn tĩnh mạch (có hoặc không có cổ trướng, giai đoạn 4). Tỷ lệ tử vong sau 1 năm ở 4 giai đoạn này là 1%, 3%, 20% và 57% tương ứng.   
Xử lý  này tập trung vào việc xử trí các biến chứng của xơ gan, bao gồm xuất huyết do giãn tĩnh mạch, cổ trướng, hội chứng gan thận và bệnh não gan. Phương pháp sàng lọc để phát hiện ung thư biểu mô tế bào gan ở bệnh nhân xơ gan và các chỉ định cho việc ghép gan trong bệnh xơ gan cũng được bàn luận.
Theo : hamenga.com.vn
Continue Reading | nhận xét

Diệp hạ châu đắng - Bí quyết bảo vệ gan nam giới do bia rượu

Diệp hạ châu đắng - Bí quyết bảo vệ gan nam giới do bia rượu
(Diệp hạ châu đắng _cây chó đẻ)




Ngày nay, bia rượu đã trở thành một thức uống không thể thiếu trên bàn tiệc của các quý ông. Nghiên cứu mới đây của Viện chiến lược và chính sách y tế cho thấy có 1/15 dân số Việt
Nam thường xuyên sử dụng bia rượu. Bên cạnh tập quán lâu đời, mức sống tăng và các mối quan hệ xã hội ngày càng mở rộng là nguyên nhân làm cho việc sử dụng bia rượu của các ông ngày càng tăng, kéo theo những hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, gây tổn hại nặng nề nhất là đến gan với các bệnh như gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, xơ gan do rượu
Theo một báo cáo tổng hợp của bác sỹ Lê Minh Khôi – Bệnh viện TW Huế có đến 40% người thường xuyên sử dụng bia rượu mắc chứng gan nhiễm mỡ. 10% số đó tiến triển thành ung thư gan. Khoảng ½ số bệnh nhân viêm gan do rượu nặng sẽ tiến triển thành xơ gan và khoảng ¼ tổng số bệnh nhân viêm gan do rượu ở mức độ nhẹ có thể tiến triển thành xơ gan trong những năm sau đó. Bệnh nhân xơ gan thường tử vong do các biến chứng như bệnh não do gan, xuất huyết tiêu hóa, suy kiệt nặng, ung thư gan…

Do vậy việc sử dụng các biện pháp bảo vệ gan từ sớm là rất cần thiết. Hiện nay xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu đang được ưa chuộng vì tính an toàn và có thể sử dụng thường xuyên, lâu dài. Các dược liệu tốt cho gan có rất nhiều như actiso, hoàng bá, vọng cách, nhân trần, cà gai leo..., trong đó được đánh giá cao hơn cả là diệp hạ châu đắng, được sử dụng không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác.

Diệp hạ châu đắng hay còn gọi là cây chó đẻ thân xanh, tên khoa học là Phyllathus amarus Schum.et Thonn, họ Thầu dầu. Diệp hạ châu đắng phân bố khắp các vùng nhiệt đới cổ. Tại Việt Nam có thể thấy diệp hạ châu đắng mọc hoang trên đất ẩm ở nhiều nơi. Diệp hạ châu đắng là loại cây thảo, cao chừng 10-40cm, ít phân cành, màu lục (khác với diệp hạ châu gọt thân đỏ). Diệp hạ châu đắng có thể dùng toàn cây, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi sấy khô.

Diệp hạ châu đắng đã được sử dụng từ 2000 năm nay. Theo y học cổ truyền diệp hạ châu đắng vị đắng hơi ngọt, tính mát, quy kinh vào can, đởm nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng tiết mật. Công dụng chính là thanh can lương huyết (mát gan, mát máu), giải độc. Trong dân gian diệp hạ châu đắng được sử dụng để điều trị viêm gan vàng da, rối loạn tiêu hóa.

Những tác dụng này cũng đã được y học hiện đại công nhận và sử dụng. Các nhà khoa học Nhật Bản và Ân Độ đã chứng minh được chất đắng trong diệp hạ châu đắng (phyllathin, hypophyllanthin, triacontanal) có rất nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là khả năng giải độc, khôi phục chức năng bình thường của gan, nên rất tốt trong các trường hợp suy giảm chức năng gan do sử dụng nhiều bia rượu. Những chất này làm gia tăng lượng glutathione – là chất bảo vệ gan thường bị thiếu trầm trọng ở những người thường xuyên sử dụng bia rượu. Bên cạnh đó diệp hạ châu đắng còn có nhiều chất chống oxy hóa thuộc nhóm xanthones, có tác dụng ức chế mạnh quá trình peroxyd hóa lipid ở tế bào gan, do đó hạn chế hiện tượng viêm, hoại tử tế bào gan.
Năm  1995 các nhà khoa học Brazil đã phát hiện ra được tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của Diệp hạ châu đắng. Tác dụng này được cho là do acid gallic. Tác dụng này rất có ý nghĩa trong tình trạng viêm gan, tổn thương gan do bia rượu.

Hiện nay diệp hạ châu đắng đã được Trung tâm dược liệu miền Trung trồng rộng rãi theo mô hình vùng nguyên liệu, cung cấp cho công ty Nam Dược sản xuất ra viên uống TPCN Hamega. Hamega là sự kết hợp của diệp hạ châu đắng, vọng cách và nhân trần có tác dụng bảo vệ và giải độc gan do bia rượu. Tháng 12/2010  Hamega và công ty Nam Dược đã vinh dự nhận được giải thưởng Chất lượng quốc gia.
Theo : hamengan.com.vn
Continue Reading | nhận xét

Trị bệnh viêm gan B từ cây chó đẻ răng cưa


Bệnh viêm gan do virut, đang là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất hiện nay. Như ta đã biết có tới 6 loại virut viêm gan: A, B, C, D, E, G. Trong đó, loại bệnh viêm gan B, bệnh viêm gan C, được coi là loại lây lan nhiều nhất. Trong y học cổ truyền, có phương cách dùng cây chó đẻ răng cưa để trị bệnh viêm gan virut B rất hiệu quả.

Vai trò của gan trong hoạt động sống của cơ thể

Gan giữ nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể. Trước hết giữ vai trò chuyển hóa và tồn trữ các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Quy trình Krebs, một chu trình chuyển hóa cơ bản, cũng được tiến hành chủ yếu ở gan. Thông qua đó, các thành phần dinh dưỡng: protid, lipid, glucid trong thức ăn được chuyển hóa để  tạo ra năng lượng (ATP) phục vụ cho mọi hoạt động sống của cơ thể. Gan tiết men,  mật (acid mật) giúp tiêu hóa thức ăn, tích lũy glucogen, giúp cho việc điều hòa  glucose huyết. Gan đóng vai trò giải độc cho cơ thể, thông qua cơ chế “giáng hóa”, các chất độc được tạo ra  các sản phẩm ít độc và được thải ra ngoài theo đường mật và đường thận. Khi gan nhiễm virut viêm gan B (HBV),  các tế bào gan sẽ bị tổn thương, làm tăng các chỉ số của enzym transaminase: ALT, AST trong máu, làm cho các hoạt động của gan bị trì trệ, kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, kém ăn, buồn nôn. Khi phát bệnh, cơ thể bị sốt, đồng thời với các triệu chứng điển hình: vàng da, vàng mắt, nước tiểu đỏ, đau tức vùng hạ sườn phải... Khi đã có biến chứng chuyển thành xơ gan: bụng trướng to, đau bụng, tiêu chảy, nôn ra máu tươi, kèm theo tụt huyết áp, nặng hơn là hôn mê do suy gan nặng, suy thận cấp, lượng nước tiểu ít dần... Nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong.
Cây chó đẻ răng cưa.
Chó đẻ răng cưa chữa viêm gan HBV
Chó đẻ răng cưa (Phyllantus  urinaria L., tên đồng danh: P.  amarus,  P. cantoniensis Hornem., P. alatus Blume, họ thầu dầu Euphorbiaceae), cây mang tên này vì người ta thấy những con chó  sau khi đẻ thường đi ăn cây này. Cây còn có tên là diệp hạ châu, vì có các hạt tròn nằm dưới lá. Ngoài ra còn có nhiều tên khác: trân châu thảo, diệp hạ châu đắng,  diệp hòe thái, lão nha châu...
Chó đẻ răng cưa là cây thuộc thảo, sống hàng năm. Toàn cây có màu xanh. Thân nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành nhỏ, cao khoảng  30-50cm, có khi tới 80cm. Lá mọc so le, lưỡng hệ, trông như lá kép. Phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên, không cuống hoặc cuống rất ngắn, mặt dưới màu xanh lơ. Hoa đơn tính, nhỏ, hoa đực, mọc thành chùm 2-4 hoa, dọc theo phần ngoại biên của các cành nhỏ, có 6 lá đài hình elip, hoặc trứng ngược. Có 3 nhị, chỉ nhị hợp nhất thành cột mảnh. Hoa cái cùng gốc, dọc theo phần giữa và phần dưới của cành nhỏ, có 6 lá đài hình trứng. Bầu nhụy hình trứng hay hình cầu, có 3 vòi nhụy. Hoa không cuống rất ngắn, mọc ở kẽ lá, hoặc đầu cành, màu đỏ nâu. Quả nang, hình cầu nhỏ, đường kính 2-2,5mm, màu đỏ hơi xám nhạt, xếp thành hàng dọc. Hạt hình  ba mặt, hình trứng, màu nâu đỏ, hơi xám nhạt, có vân ngang. Mùa ra hoa từ tháng 4-6. Chó đẻ răng cưa mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta. Hiện đã được trồng với diện tích lớn để lấy nguyên liệu sản xuất thuốc trị viêm gan.
Chó đẻ răng cưa chứa thành phần hóa học gì?
Trong chó đẻ răng cưa có  các thành phần flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.
Các nhà khoa học đã chứng minh dịch chiết của Phyllantus, có tác dụng ức chế mạnh HBV, thông qua cơ chế ức chế enzym ADNp (ADNpolymerase) của HBV,  làm giảm HbsAg và Anti- HBs.
Công dụng của chó đẻ răng cưa
Chó đẻ răng cưa được nhân dân ở nhiều nước dùng để trị mụn nhọt, đinh râu, chữa rắn cắn; có thể dùng đắp ngoài, uống trong; đặc biệt còn dùng trị sốt,  lợi tiểu, đái tháo đường, u xơ tuyến tiền liệt, viêm âm đạo, khó tiêu, viêm đại tràng và chữa bệnh viêm gan vàng da. Trong những năm gần đây, trên thế giới và trong nước có nhiều công trình đã sử dụng  cây thuốc này để trị bệnh viêm gan B. Với liều 900mg/ ngày, có tới 50% yếu tố lây truyền của HBV trong máu đã mất đi sau 30 ngày sử dụng vị thuốc này. Để trị viêm gan vàng da, có thể dùng chó đẻ răng cưa 40g, mã đề 20g, dành dành 12g, sắc uống. Trên thị trường Việt Nam cũng có nhiều chế phẩm trị viêm gan do HBV, trong thành phần có chó đẻ răng cưa. Ngoài ra, còn dùng chữa lở loét, mụn nhọt không liền miệng: Lá chó đẻ răng cưa, lá thồm lồm ăn tai, lượng bằng nhau, đinh hương 1 nụ, giã nát, đắp vào chỗ đau.
 Người ta cho rằng chó đẻ răng cưa có tác dụng ức chế mạnh HBV- DNA (virut viêm gan B trên hệ mã di truyền) và làm cho virut bị đào thải, không bám vào được ADN của người. Những bệnh nhân viêm gan do HBV sau khi sử dụng thuốc có chó đẻ răng cưa, được phục hồi enzym transaminase từ 50-97%, bilirubin toàn phần trở về bình thường.
Trong khi sử dụng chó đẻ răng cưa để trị viêm gan HBV, cần chú ý phân biệt với một cây khác cùng họ, cũng mang tên chó đẻ răng cưa, còn có tên cam kiềm phyllantus niruri L., phân bố ở một số tỉnh  thuộc châu thổ sông Hồng (Thái Bình, Hải Dương...). Về hình dạng thực vật, cây này cũng giống như cây thân xanh nói trên, song cây chỉ cao khoảng 5-10cm; thân, cành có màu tía đỏ, quả có màu đỏ. Nhân dân thường dùng toàn cây, sắc đặc lấy nước ngậm chữa đau răng lợi, hôi miệng, thông tiểu, thông sữa, đôi khi cũng dùng trị viêm gan vàng da.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh
(Bệnh viêm gan b,c, Nguồn Sức khỏe & Đời sống)
Continue Reading | nhận xét

Tác dụng của cây chó đẻ


Hỏi:Gần đây tôi đi nhiều nơi thấy người ta sử dụng cây chó đẻ để đun nước uống hằng ngày. Xin hỏi tác dụng của cây chó đẻ như thế nào, sử dụng ra sao, uống lâu ngày có bị tác dụng phụ gì không ? (Nguyễn Hoàng - Tây Ninh)
Đáp:Cây chó đẻ hay còn gọi là chó đẻ răng cưa, diệp hạ châu, rút đất... thuộc họ thầu dầu. Tác dụng: dùng để chữa đau bụng, đinh râu, mụn nhọt, viêm da sẩn ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, tưa lưỡi. Ngoài ra còn được dùng để chữa bệnh gan, sốt, rắn cắn. Có thể dùng cây tươi giã đắp hoặc dịch ép tươi bôi ngoài.
Một số nghiên cứu cho thấy cây chó đẻ còn được dùng chữa bệnh viêm gan virus siêu vi B do có tác dụng chống lại virus viêm gan B, đồng thời có tác dụng kháng khuẩn nhẹ giống như kháng sinh.
cây chó đẻ
Một số bài thuốc có cây chó đẻ:
- Chữa nhọt độc sưng đau: một nắm cây chó đẻ trộn với muối giã nhỏ, chế nước chín vào vắt lấy nước cốt uống, bã đắp vào chỗ đau.
- Chữa bệnh chàm mạn tính: cây chó đẻ vò, sát lên vết chàm, làm liên tục hằng ngày.
- Chữa viêm gan vàng da, viêm thận đái đỏ hoặc viêm ruột tiêu chảy: cây chó đẻ 40g, mã đề 20g, dành dành 20g sắc uống 
- Chữa ăn không ngon miệng, đau bụng sốt, nước tiểu sẫm mầu: cây chó đẻ 1g, nhọ nồi 2g, xuyên tâm liên 1g, tất cả phơi khô trong bóng râm và tán bột sắc uống ngày 3 lần.

BS Bạch Long 
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)
Continue Reading | nhận xét

Chế độ ăn uống kiêng kỵ cho người gan nhiễm mỡ


Chế độ ăn uống kiêng kỵ cho người gan nhiễm mỡ

Ngoài việc điều trị theo chỉ định của bác sỷ thì chế độ ăn cho người mắc bệnh

Gan nhiếm mỡ cũng là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất của người mắc bệnh này. Y học cổ truyền xếp bệnh gan nhiễm mỡ thuộc loại các chứng ‘Đàm Thấp’, ‘Trọc Trở’ ‘

Thức ăn lý tưởng cho người bị bệnh gan nhiễm mỡ

Ngô, rau cần, nấm hương có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Ngoài ra còn có một số loại trà giúp giải độc, hạ mỡ máu và giảm béo. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ.
Ngô: chứa nhiều các acid béo không no, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất béo nói chung và cholesterol nói riêng. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, ngô có vị ngọt tính bình, công dụng điều trung kiện vị lợi niệu, thường được dùng cho những trường hợp tì vị hư yếu, chán ăn, thủy thấp đình trệ, tiểu tiện bất lợi, phù thũng, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành.
Nhộng tằm: vị ngọt mặn, tính bình, giúp ích tì bổ hư, trừ phiền giải phát. Nhộng còn có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.
Kỷ tử: có tác dụng ức chế quá trình tích tụ chất mỡ trong tế bào gan, thúc đẩy sự tăng sinh tế bào gan và cải thiện chu trình chuyển hóa chất béo.
Nấm hương: chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.
Lá trà: có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành mạch, giảm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
Lá sen: giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng dưới dạng hãm với nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.
Rau cần: chứa nhiều vitamin, tác dụng mát gan, hạ cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình bài tiết các chất phế thải và làm sạch huyết dịch.
Ngoài ra, người bệnh gan nhiễm mỡ nên bổ sung các loại rau tươi như cải xanh, cải cúc, rau muống... có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột... thanh nhiệt, thông phủ, hành khí, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu tương... chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; các loại thịt, cá ít mỡ và các thức ăn chế biến từ đậu tương, đậu xanh, đậu đen...
Về đồ uống, nên dùng một trong những loại trà dược sau đây:
- Trà khô 3 g, trạch tả 15 g. Hai thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được. Có công dụng bảo vệ gan, tiêu mỡ, lợi niệu, giảm béo.
- Trà khô 2 g, uất kim 10 g (có thể thay bằng nghệ vàng), cam thảo sao vàng 5 g,
- Trà khô 3 g, cát căn (sắn dây thái phiến) 10 g, lá sen 20 g. Tất cả thái vụn hãm uống thay trà. Có công dụng giải độc, hạ mỡ máu, giảm béo. Cũng có thể chỉ cần dùng lá sen tươi hoặc khô thái vụn hãm uống thay trà hằng ngày cũng tốt.

 *** Cần chú ý kiêng kỵ các thực phẩm và đồ ăn quá béo như mỡ động vật, não và gan gia súc; các thứ quá cay nóng như gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc...
Continue Reading | nhận xét

Chế độ dinh dưỡng cho nhân bệnh gan


Chế độ dinh dưỡng trong bệnh gan

Gan được xem như là một nhà máy chế biến thức ăn và cung cấp năng lượng cho cơ thể. Khi có bất kỳ một bệnh lý " VD benh viem gan b; benh viem gan c " nào ở gan thì việc hoạt động của “nhà máy” sẽ đình trệ, nó cần thời gian để nhà máy được sửa chữa phục hồi. Trong thời điểm này nếu chế độ ăn không hợp lý sẽ làm tình trạng bệnh lý gan nặng hơn và sự phục hồi của gan kéo dài.
1. Chế độ ăn cho bệnh nhân viêm gan cấp
-         Trong bệnh lý viêm gan cấp, “nhà máy” bị trục trặc đột ngột, nên hoạt động bình thường của lá gan bị xáo trộn, người bệnh cần giảm bớt mỡ, bơ, dầu, không nên ăn thực phẩm có nhiều cholesterol như nội tạng súc vật, lòng đỏ trứng …
-         Cần tăng sử dụng một số chất để cung cấp đủ năng lượng, giúp gan hồi phục tốt hơn như : tăng chất bột đường từ gạo, mật ong, trái cây ngọt, chuối.
-         Nên dùng những thức ăn giàu đạm có giá trị dinh dưỡng cao như lòng trắng trứng, thịt bò, thịt heo, thịt gà nạc, cá nạc, đậu hủ, sữa đã tách bơ.
-         Ăn nhiều rau xanh, trái cây để cung cấp các khoáng chất và các vitamine A, D, B, C …là những yếu tố cần thiết cho hoạt động bình thường của gan.
-         Ngưng rượu bia, tránh sử dụng những thuốc độc cho gan.
2. Chế độ ăn cho người mắc bệnh viêm gan mãn
-         Trong tình trạng bệnh lý này, tế bào gan bị tổn thương kéo dài và ngày một nặng hơn. Vì vậy bệnh nhân cần phải được cung cấp năng lượng đầy đủ để giúp gan hồi phục.
-         Tăng chất bột đường dễ hấp thu từ gạo, ngũ cốc, trái cây ngọt.
-         Sử dụng thức ăn hàm lượng đạm cao nhưng ít béo như lòng trắng trứng, thịt gà nạc, thịt heo nạc …
-         Cung cấp đủ vitamine cho gan hoạt động, mỗi ngày có thể uống 1 viên Multivitamine.
-         Dù bệnh lý gan mãn do bất kỳ nguyên nhân nào cũng phải kiêng rượu bia và tránh dùng những thuốc gây độc cho gan.
 3.  Chế độ ăn cho người xơ gan
           Chế độ ăn cho người xơ gan không báng bụng
-         Nhu cầu năng lượng như người bình thường.
-         Muối 2 - 4 g / ngày, được nêm nếm thức ăn với ½ muỗng café muối, không chấm nước tương hay nước mắm.
-         Uống nước 1.5 - 2 lít nước / ngày.
-         Tăng lượng đạm thực vật, giảm đạm động vật (do đạm động vật tạo nhiều ammoniac) : 0.8 -1 g đạm / kg cân nặng.
-         Chia thức ăn thành nhiều bữa nhỏ có tác dụng tránh đầy bụng hay khó tiêu, dễ dung nạp thức ăn hơn.
         Chế độ ăn cho người xơ gan có báng bụng
-         Nhu cầu năng lượng như người bình thường.
-         Muối 2 g / ngày : nêm muối vào thức ăn lạt, không chấm gì thêm.
-         Không ăn mắm, cá khô, thức ăn đóng hộp hay bày bán sẵn (vì có nhiều bột ngọt chứa muối natri).
-         Nước uống 1 - 1.5 lít / ngày, bao gồm cả sữa, nước lọc, nước trái cây …
-         Nếu bụng báng nhiều nên nằm nghỉ để thận có thể lọc được tốt hơn.
-         Tăng lượng đạm thực vật có thể (nhu cầu đạm 0.8g / kg / ngày), hạn chế thịt cá, trứng gà, vịt, sữa; ăn nhiều đậu hủ, uống sữa đậu nành…
-         Ăn yaourt có thể giúp hoá giải một phần ammoniac.
-         Chia chế độ ăn thành nhiều bữa nhỏ : sáng - trưa - chiều - tối, xen kẽ các bữa ăn nhỏ giúp hạn chế bệnh tiểu đường và biến chứng hạ đường huyết.
-         Hạn chế dầu, không ăn mỡ động vật.
-         Ăn nhiều chất xơ : rau xanh, trái cây, hay dạng chất xơ tổng hợp sao cho đi tiêu từ 2 - 3 lần / ngày.
-         Mỗi ngày bổ sung 1 viên multivitamines với tiêm vitamine K khi TQ kéo dài.
-         Tránh những thức ăn chứa nhiều sắt như : thịt màu đỏ, gan, huyết… vì dễ bị ứ sắt dẫn đến tổn thương các cơ quan .
-         Bữa ăn cuối cùng cách xa giờ đi ngủ ít nhất 3 - 4 giờ.
-         Nên ăn nhiều vào buổi sáng để tránh đầy bụng và buồn nôn.
-         Hạn chế café, trà và tránh những thức ăn chua cay vì dễ nguy cơ viêm dạ dày ở người xơ gan.

Các bạn có thể xem thêm tại : hamengan.com.vn
Continue Reading | nhận xét

Chế độ ăn cho người bị gan nhiễm mỡ


Chế độ ăn cho người bị gan nhiễm mỡ


Ngô, rau cần, nấm hương có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Ngoài ra còn có một số loại trà giúp giải độc, hạ mỡ máu và giảm béo. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ.
Một số món ăn:
Ngô: chứa nhiều các acid béo không no, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất béo nói chung và cholesterol nói riêng. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, ngô có vị ngọt tính bình, công dụng điều trung kiện vị lợi niệu, thường được dùng cho những trường hợp tì vị hư yếu, chán ăn, thủy thấp đình trệ, tiểu tiện bất lợi, phù thũng, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành.
Nhộng tằm: vị ngọt mặn, tính bình, giúp ích tì bổ hư, trừ phiền giải phát. Nhộng còn có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.
Kỷ tử: có tác dụng ức chế quá trình tích tụ chất mỡ trong tế bào gan, thúc đẩy sự tăng sinh tế bào gan và cải thiện chu trình chuyển hóa chất béo.
Nấm hương: chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.
Lá trà: có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành mạch, giảm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
Lá sen: giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng dưới dạng hãm với nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.
Rau cần: chứa nhiều vitamin, tác dụng mát gan, hạ cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình bài tiết các chất phế thải và làm sạch huyết dịch. Ngoài ra, người bệnh gan nhiễm mỡ nên bổ sung các loại rau tươi như cải xanh, cải cúc, rau muống... có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột... thanh nhiệt, thông phủ, hành khí, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu tương... chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; các loại thịt, cá ít mỡ và các thức ăn chế biến từ đậu tương, đậu xanh, đậu đen...
Một số loại trà tốt cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ:
- Trà khô 3 g, trạch tả 15 g. Hai vị hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì được. Trà này có công dụng bảo vệ gan, tiêu mỡ, lợi niệu, giảm béo. Trạch tả có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu, làm hạ cholesterol, triglycered và lipoprotein có tỷ trọng thấp, góp phần phòng chống tình trạng xơ vữa động mạch.
- Trà khô 2 g, uất kim 10 g (có thể thay bằng nghệ vàng), cam thảo sao vàng 5 g, mật ong 25 g. Tất cả thái vụn, hãm với nước sôi, uống trong ngày... Thức uống này có công dụng làm cho gan thư thái, tiêu trừ tích trệ và lợi niệu. Đặc biệt uất kim có tác dụng điều chỉnh hội chứng rối loạn lipid máu khá tốt.
- Trà khô 3 g, cát căn (sắn dây thái phiến) 10 g, lá sen 20 g. Tất cả thái vụn hãm uống thay trà có công dụng giải độc, hạ mỡ máu, giảm béo. Cần dùng lá sen tươi hoặc khô thái vụn hãm uống thay trà hàng ngày.
- Rễ cây trà 30 g, trạch tả 60 g, thảo quyết minh 12 g. Tất cả thái vụn hãm uống hàng ngày. Những vị này có công dụng làm giảm mỡ máu và phòng chống béo phì. Loại trà này rất thích hợp với những người bị nhiễm mỡ gan kèm theo tình trạng rối loạn lipid máu, bệnh lý mạch vành.
- Trà 30 g, sinh sơn tra 10-15 g. Hai vị hãm nước sôi uống hằng ngày, giúp tiêu mỡ giảm béo. Sơn trà có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu rất tốt và góp phần thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất đường và chất béo trong gan.
- Hoa trà 2 g, trần bì 2 g, bạch linh 5 g. Ba thứ thái vụn hãm với nước trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Trà có công dụng kiện tì hóa thấp, lợi niệu trừ đàm.
Bệnh nhân gan nhiễm mỡ cần kiêng kị những thực phẩm và đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ... Các thứ quá cay và nóng như gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc...
(Theo Tư Vấn Tiêu Dùng)
Continue Reading | nhận xét

Tác hại của rượu bia


Bia rượu - Đâu chỉ hại mình gan !!!





Trước giờ khi nhắc đến bia rượu thường người ta nghĩ ngay đến các tác hại trên gan như gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan mà ít ai để ý rằng bia rượu quá đà còn ảnh hưởng không nhỏ đến đường tiêu hóa, gây ra các triệu chứng rối loạn tiêu hóa hay viêm đại tràng, viêm loét dạ dày…


Khó tiêu, ôm bụng chạy … vì bia rượu
Triệu chứng này thường xuất hiện sau những bữa “linh đình” cùng bạn bè hay những buổi “giải sầu” ở quán nhậu. Khó tiêu có thể chỉ là rối loạn tiêu hóa nhất thời, tuy nhiên ở một số trường hợp khó tiêu lại là biểu hiện của các bệnh lý như viêm loét dạ dày, viêm đại tràng giai đoạn đầu… Vì vậy không nên coi thường bỏ qua các triệu chứng này.
Sử dụng quá nhiều bia rượu, các chất có tính kích thích (như cà phê, thuốc lá),  chất lượng thực phẩm tại các quán nhậu không đảm bảo là những nguyên nhân dẫn đến rối loạn tiết dịch trong dạ dày, phá hủy hàng rào bảo vệ niêm mạc, làm mất cân bằng giữa “yếu tố bảo vệ” và “yếu tố tấn công”, lâu dần dẫn đến bệnh lý của dạ dày, tá tràng, rối loạn tiêu hóa, viêm đại tràng.
Vọng cách – nhiều tác dụng chữa bệnh chưa được khai thác
Vọng cách được biết đến như một loại cây cảnh, đồng thời cũng là thứ lá quen thuộc trong bữa ăn của nhiều gia đình nhà nông. Tuy nhiên tác dụng chữa bệnh của vọng cách, đặc biệt là các bệnh về gan và đường tiêu hóa do bia rượu còn chưa được nhiều người biết đến.
Ở nước ta Vọng cách mọc hoang ở nhiều nơi. Lá Vọng cách được người dân ở vùng Nam Định dùng phổ biến để ăn gỏi cá và chữa lỵ, tiêu hóa kém, viêm gan. Rễ dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, sốt, chữa bệnh về gan, tiểu đường… Chẳng thế mà bữa tiệc nào của cánh đàn ông bia rượu nơi đây cũng phải có thứ lá này.
 Xuất phát từ kinh nghiệm sử dụng Vọng cách trong dân gian, từ năm 2008 các nhà khoa học thuộc Viện dược liệu, Viện khoa học công nghệ, phối hợp cùng 2 trường Đại học Y và Dược Hà nội đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng chống viêm của cao lỏng lá vọng cách trên thực nghiệm”. Kết quả các nghiên cứu trên cho thấy lá vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm gan trên mô hình thực nghiệm. Cao lỏng lá Vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm. Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan và chống rối loạn đường tiêu hóa mà vọng cách đang được sử dụng trong dân gian, đã mở ra một nguồn thảo mộc quý mà lâu nay chưa được sử dụng rộng rãi, là tin mừng cho các bệnh nhân nam giới bị bệnh gan và đường tiêu hóa do uống nhiều bia rượu.
HAMEGA – sản phẩm đầu tiên khai thác tác dụng quý của lá Vọng cách

Hiện nay trên thị trường Vọng cách đã xuất hiện trong thành phần của HAMEGA. Đây là sản phẩm đầu tiên khai thác những tác dụng quý của cây thuốc nam này. HAMEGA kết hợp Vọng cách cùng Diệp hạ châu đắng – cũng là một dược liệu rất tốt cho gan, càng củng cố thêm tác dụng bảo vệ gan và đường tiêu hóa. Sử dụng HAMEGA thường xuyên không những giúp nam giới bảo vệ gan, tăng cường chức năng gan, hạn chế tác hại của bia rượu mà còn giúp nam giới có được đường tiêu hóa khỏe mạnh, hạn chế các rối loạn tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy, viêm đại tràng… do bia rượu quá đà và các thực phẩm tràn lan ở các quán nhậu.
Quỳnh Diệp
HAMEGA đã được Bộ y tế cấp phép và đang lưu hành rộng rãi tại các nhà thuốc trên toàn quốc.
SĐT: 04.22133856 /08.62785988
Website: www. hamengan.com.vn
Continue Reading | nhận xét
/

Mẹ và Bé

Sức khỏe sinh sản

BỆNH GOUT

hoanghieu.come.vn
 

Copyright © 2011. VUHOANGHIEU.TK - All Rights Reserved
Template Modify by vuhoanghieu Inspired
Proudly powered by